Những chuyến di dân

Hẳn trong mỗi người dân Quảng Trị còn nhớ những tháng ngày sau năm 1975, giữa bao khó khăn chồng chất của việc tái thiết quê hương đã có hàng trăm đợt di dân với hàng ngàn hộ gia đình tự nguyện lên miền núi lập làng xây dựng cuộc sống mới. Với họ, đất đai miền Tây không còn là nơi “rừng thiêng nước độc” mà chính là chốn “đất lành” để họ ký thác cuộc đời.

Hôm chúng tôi ngồi trong căn nhà khang trang của anh Nguyễn Nam ở thị trấn Lao Bảo, dòng ký ức về những ngày đầu lên “khai sơn phá thạch” ở miền núi Quảng Trị lại tuôn trào. Gia đình anh là một trong số hàng chục hộ dân ở xã Triệu Phước (Triệu Phong) tự nguyện lên miền núi sau những ngày mới giải phóng. Rời quê hương bản quán ra đi những người dân vùng đồng bằng Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh đã bịn rịn “mang theo tên xã, tên làng...”, lập nên những Hướng Linh, Tân Long, Tân Thành, Tân Độ...

Anh Nam nhớ lại: “Hồi đó đất đai ở đây còn hoang vu, cây cối rậm rạp che khuất tầm nhìn. Mỗi hộ dân được phân một lô đất để khai hoang phục hóa, dựng nhà và tổ chức sản xuất. Nhà nọ cách nhà kia chỉ một ngọn đồi nhưng giữa lau lách ngút ngàn khó mà nhìn thấy. Đêm đêm các gia đình thường đốt củi để ngọn lửa ấm xua đi cái giá lạnh của núi rừng, cái hoang vu nơi mảnh đất vừa mới đặt chân đến...”.

Anh Nam thú nhận: “Nói vậy chứ lúc đó đốt lửa để ngầm báo hiệu với nhà bên cạnh là chúng tôi đang có mặt ở trong nhà chứ đêm về có muốn đến thăm nhau cũng không ai dám ra khỏi nhà vì lo sợ đủ điều...”

Bây giờ, sau bao nhiêu năm tạo dựng, cuộc sống của gia đình anh Nam cũng như hàng trăm hộ dân khác nơi thị trấn Lao Bảo đã trở nên khá giả. Ngoài cơ ngơi nhà cửa, phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt đắt tiền trị giá hàng trăm triệu đồng, có không ít hộ nay đã có trong tay hàng chục héc ta cà phê, hàng trăm mét đất mặt tiền để kinh doanh.

Thị trấn Lao Bảo cùng với Khe Sanh đang là 2 thị trấn sầm uất và có tốc độ phát triển kinh tế khá ở vùng miền núi Quảng Trị. Bỏ lại phía sau những gian lao vất vả của buổi đầu lập nghiệp, hàng trăm hộ dân từ miền xuôi lên miền núi đang sát cánh cùng đồng bào thiểu số xây dựng cuộc sống mới. Không còn là đồi núi hoang vu, là lau lách, cỏ dại ngút ngàn, Khe Sanh- Lao Bảo đang mang trên mình một diện mạo mới, một tư thế mới để sẵn sàng hội nhập trên hành trình vươn tới mạnh giàu.

Đánh thức tiềm năng

Phát triển KT-XH miền Tây nói chung và miền núi Quảng Trị nói riêng là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo và thu hẹp dần khoảng cách giữa miền núi với đồng bằng. Đây là một địa bàn chiến lược quan trọng với 313.675 ha, chiếm 68,7% tổng diện tích đất tự nhiên và 17% dân số của toàn tỉnh, là nơi tập trung sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số Vân kiều, Pa cô với gần 62.000 người.

Sau nhiều năm được quan tâm đầu tư thông qua nhiều chương trình, dự án đến nay tăng trưởng kinh tế bình quân ở vùng miền núi Quảng Trị đạt từ 14-16%/năm. Bức tranh kinh tế miền núi Quảng Trị hiện nay là một ‘’đô thị vàng’’ đang hiện hữu trên bình nguyên Lao Bảo; vùng chuyên canh cà phê rộng lớn từ Hướng Tân vào Hướng Phùng; một vựa sắn được mệnh danh là cây ‘’xoá đói giảm nghèo’’ ở bao la vùng Lìa. Và một thị trấn Khe Sanh năng động với thương trường...

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp & PTNT, nền kinh tế vùng miền Tây của tỉnh chủ yếu phát triển nông, lâm nghiệp. Cơ cấu cây trồng đa dạng, phong phú, trong đó các cây trồng tập trung như cao su 17.333 ha, cà phê 4.659 ha, hồ tiêu 2.263 ha, sắn 10.000 ha, chuối 2.486 ha, lạc 2.500 ha và một số loại cây trồng khác. Nhờ điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đa dạng, các loại cây trồng ở vùng miền Tây cho hiệu quả kinh tế cao, là những cây trồng đặc trưng rất được thị trường ưa chuộng, có thể trở thành hàng hóa có giá trị.

Với diện tích đất tự nhiên là 1.950 ha, nhưng hiện nay ở xã Tân Long (Hướng Hóa) có đến 1.000 ha đất chuyên canh trồng chuối. Hầu hết các hộ dân trong xã đều tham gia trồng chuối, hộ trồng nhiều nhất hơn 10 ha. Cây chuối không chỉ giúp người dân Tân Long xóa đói giảm nghèo mà còn giúp họ trở nên giàu có.

Từ năm 2008, khi sản phẩm chuối Tân Long tìm được thị trường xuất khẩu ra nước ngoài không chỉ khẳng định chất lượng chuối Tân Long mà quan trọng là tìm được thị trường tiêu thụ lớn và ổn định nhằm tăng giá thành sản phẩm với mức xuất khẩu bình quân mỗi năm từ 500-600 tấn chuối, tổng doanh thu đạt trên 20 tỷ đồng/năm. 


 

 Thu hoạch cà phê ở Hướng Hóa.


Hiện tại ở Hướng Phùng có 1.151 hộ với 4.831 khẩu, trong đó dân tộc Vân kiều là 461 hộ với 2.333 khẩu. Từ lâu, cây cà phê được xem là cây trồng chủ lực nên toàn xã đã trồng được 1.380 ha, trong đó có đến 1.080 ha đã cho thu hoạch, mỗi năm sản lượng đạt 10.000 tấn. Từ chủ trương xen cư, xen canh đã mang lại những hiệu quả tích cực trong phát triển kinh tế cho nhiều hộ gia đình. Đặc biệt nhiều hộ gia đình đồng bào thiểu số nghèo khó đã học được cách làm kinh tế, từ bỏ tập quán đốt nương làm rẫy chuyển sang lập trang trại kết hợp với chăn nuôi gia súc.

Một trong những người đi đầu trong việc giúp đồng bào thiểu số phát triển kinh tế là ông Phan Thành Danh ở thôn Cổ Nhổi (Hướng Phùng). Hiện tại ông có trên 5 ha cà phê, 4 ha cao su, 1 ha tiêu, mỗi năm ông thu về trên 200 triệu đồng. Ngoài việc làm giàu cho gia đình, ông Danh còn lập thêm xưởng chế biến cà phê để tạo việc làm cho lao động địa phương và tích cực giúp đồng bào thiểu số mở hướng phát triển kinh tế nhằm khai thác tiềm năng lợi thế đất đai để xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.

Mỗi khi trò chuyện với chúng tôi, Chủ tịch UBND huyện Hướng Hoá Nguyễn Ngọc Sắc luôn nhắc đến bước đột phá đầy táo bạo trong việc đưa cây sắn vào trồng ở vùng Lìa thay cho cây ăn quả. Đến nay toàn huyện có 4.000 ha sắn KM 94, tập trung ở các xã Thanh, Thuận, A Túc và A Dơi.

Sản lượng mỗi năm gần 10.000 tấn mang lại thu nhập khoảng 70 tỷ đồng. Có thể nói cây sắn đã làm “cuộc cách mạng” về xoá đói giảm nghèo cho hàng ngàn hộ dân miền núi. Cứ bình quân mỗi hộ có 1 ha sắn sẽ cho thu nhập 20 triệu đồng/ vụ. Đây quả thực là nguồn thu nhập lớn giúp cho nhiều hộ gia đình từ thiếu đói dần ổn định cuộc sống và vươn lên làm giàu.

Thử thách trên đường phát triển

Có thể khẳng định rằng, vùng miền núi Quảng Trị đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, từng bước khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai. Từ nền sản xuất mang tính tự cung tự cấp đến nay đồng bào dân tộc thiểu số đã trồng được cây công nghiệp ngắn, dài ngày, cây ăn quả, tích cực thâm canh cây lúa nước, sắn, lạc, cà phê, hồ tiêu, cao su. Theo đó, nền kinh tế- xã hội vùng miền Tây phát triển, bộ mặt nông thôn, miền núi khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của người dân đã có bước cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm, tạo đà, tạo thế cho sự phát triển KT-XH.

Trên thực tế vùng miền núi và dân tộc thiểu số của tỉnh Quảng Trị có hơn 90% người dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp với các loại nông sản hàng hóa sản xuất gồm cà phê, cao su, hồ tiêu, sắn, chuối, đậu đỗ các loại... Do vậy, việc thâm canh và lựa chọn cây trồng, khi mà cây sắn đã khẳng định được hiệu quả và chỗ đứng vững vàng ở vùng Lìa mới thấy được giá trị kinh tế của một loại cây trồng lâu nay bị xem nhẹ trong tư duy chuyển đổi cây trồng.

Bên cạnh cây sắn thì hiệu quả kinh tế to lớn từ cây chuối ở Tân Long đã tìm được thị trường xuất khẩu nên hiện nay Tân Long đã thành một vùng chuyên canh chuối của tỉnh. Cho dù chất lượng chuối đã được khẳng định nhưng người dân trồng chuối Tân Long không khỏi bức xúc vì luôn bị tư thương ép giá. Sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các thương lái thu mua đã khiến thị trường chuối Tân Long luôn ở trong tình trạng mất ổn định, gây thiệt hại cho người trồng. Thị trường bất ổn làm nảy sinh tâm lý hoang mang cho người trồng chuối nên người dân mong muốn có được một đầu mối thu mua đủ sức bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho họ với mức giá ổn định.

Nếu ở Hướng Hóa cây cà phê, chuối và sắn là cây trồng chủ lực thì từ lâu lạc đã trở thành cây đem lại giá trị kinh tế cao đối với nhiều xã ở huyện miền núi Đakrông, nhất là những xã có diện tích đất bồi ven sông như Ba Lòng, Triệu Nguyên, Hải Phúc với diện tích gieo trồng gần 535 ha. Vậy nhưng liên tiếp trong mấy vụ sản xuất gần đây, cây lạc mất mùa đã gây ra nhiều khó khăn cho người dân.

Khi nói về những thiệt hại từ cây lạc, ông Đinh Tương, Trưởng phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Đakrông cho biết: “Để đối phó với tình hình khó khăn chung trên địa bàn, huyện đã tiến hành đánh giá nguyên nhân và bàn những phương án giải quyết thiệt hại giúp người dân ổn định cuộc sống”.

Tuy nhiên đây chỉ là các giải pháp tình thế, bởi những khó khăn mà vùng trọng điểm lương thực của huyện miền núi Đakrông đang gánh chịu là hệ lụy của thế độc canh cây trồng, thiếu sự chủ động tìm kiếm các loại cây trồng khác thay thế lúc cần thiết. Do đó, ngoài phát huy thế mạnh từ một số cây lương thực, hoa màu truyền thống, huyện Đakrông cần có chủ trương mở rộng diện tích lúa nước để chủ động về nguồn lương thực.

Cần một giải pháp khả thi

Để tiếp sức cho vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, đẩy nhanh việc xoá đói giảm nghèo, vấn đề quan tâm nhất hiện nay là hỗ trợ việc thu mua, tiêu thụ và chế biến nông sản. Trên thực tế hàng năm, Nhà nước đã hỗ trợ giá tiêu thụ nông sản thông qua chính sách trợ giá, trợ cước với lượng vốn bình quân khoảng 2.600 triệu đồng/năm 2010. Nguồn hỗ trợ này chủ yếu trợ giá cho việc thu mua sắn tươi nguyên liệu, trợ giá cước vận chuyển, hỗ trợ phân bón, trợ giá tiêu thụ nông sản...

Bên cạnh việc trợ giá thì mạng lưới tiêu thụ cũng đã hình thành. Hiện nay một số địa phương đã có các nhà máy chế biến, tiến hành thu mua tiêu thụ nông sản như sắn, cà phê, cao su cho bà con các dân tộc ở miền núi có đủ khả năng thu mua, tiêu thụ và chế biến hết sản lượng nông sản trên địa bàn. Chủ trương đẩy mạnh phát triển sản xuất, thu mua, tiêu thụ và chế biến nông sản, khai thác có hiệu quả tiềm năng lợi thế và lực lượng sản xuất tại địa bàn miền núi vùng dân tộc thiểu số của tỉnh đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Tuy nhiên về lâu dài và muốn có tính ổn định, bền vững, tỉnh và các cơ quan quản lý ngành cần có định hướng cụ thể cho người dân và các doanh nghiệp trong việc phát triển loại cây trồng phù hợp để sản xuất hàng hóa, tạo sự tin cậy đối với các nhà đầu tư, thu mua, tiêu thụ và chế biến nông sản.

Thực tiễn đã chứng minh rằng một số cây như cao su, cà phê, sắn được sản xuất được theo lối sản xuất hàng hoá đã mang lại giá trị kinh tế cao do đó cần khuyến khích và có chính sách phù hợp để phát triển. Cần nghiên cứu và áp dụng các công nghệ tiên tiến sau sản xuất để chế biến thành các mặt hàng có giá trị phục vụ đời sống, giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô để nâng cao giá trị, tăng lợi nhuận và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Mặt khác để ổn định đời sống lâu dài, tạo điều kiện phát triển và có tích lũy cho bà con các dân tộc sống ở vùng miền núi cần kết hợp chặt chẽ, hài hoà việc phát triển nông nghiệp với lâm nghiệp. Ngoài việc duy trì và phát triển bền vững vùng nguyên liệu, hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân theo giá thị trường, các doanh nghiệp cần cung ứng giống mới, phân bón giá rẻ, tập huấn kỹ thuật canh tác để tăng năng suất và chất lượng cây trồng.

Trong quá trình phát triển miền núi cần kết hợp chặt chẽ phát triển sản xuất với cải thiện đời sống của người dân các dân tộc ở miền núi, trước hết là phải bảo đảm an ninh lương thực, giảm đói nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống, đáp ứng các nhu cầu về giáo dục, y tế và các vấn đề an sinh khác nhằm phát triển toàn diện con người, củng cố khối đoàn kết giữa cộng đồng các dân tộc trên địa bàn.

Quan tâm đến công tác phát triển nguồn nhân lực cho miền núi, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành; thực hiện nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi đối với vùng đồng bào dân tộc và miền núi, chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sạch cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo theo hướng dân chủ, công khai và bình đẳng.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế -xã hội vùng miền Tây để thúc đẩy vùng miền núi phát triển một cách toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng việc khai thác tiềm năng đất đai và xây dựng cơ chế chính sách phù hợp.